Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

Tác dụng của vitamin E đối với chị em phụ nữ


 Vitamin E là loại vitamin tan trong chất béo, cần thiết và quan trọng trong quá trình sinh lý ở cả hai phái. Đặc biệt với phụ nữ, vitamin E đóng vai trò thiết yếu với sức khỏe đồng thời duy trì chức năng của hệ thống sinh sản.

Chức năng của vitamin E 
Vitamin E giúp cơ thể bạn sản sinh ra chất prostaglandin, và giảm đồng thời hormone có tên prolactin. Hormone prolactin, luteotropic xuất hiện nhiều trong thời kỳ rụng trứng và có ảnh hưởng không nhỏ đến các cơ thể cũng như cảm xúc của phụ nữ giai đoạn tiền kinh nguyệt. Duy trì mức độ hormone prolactin cân bằng có vai trò to lớn trong chu trình của phụ nữ, cũng như lượng vitamin E phù hợp sẽ cân bằng các hormone sinh dục, thúc đẩy và cân bằng các nhu cầu về “chuyện yêu” của bạn.
Khi cơ thể thiếu vitamin E
Thiếu hụt vitamin E có thể do chế độ ăn uống của bạn không đáp ứng đủ hoặc do khả năng hấp thụ kém vitamin E của cơ thể. Trong cả hai trường hợp, sự thiếu hụt vitamin E gây ảnh hưởng toàn phần đến cơ thể bạn, không ngoạii trừ nhu cầu “chuyện ấy” và khả năng sinh sản. Thiếu máu là hệ quả của việc thiếu hụt vitamin E, cơ thể sản xuất hormone kích thích sinh lý ít đi và ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ quan sinh sản của bạn.

Thừa vitamin E cũng không tốt
Vitamin E tan trong chất béo, nếu bạn hấp thụ quá nhiều, cơ thể có thể lưu trữ nó thay vì loại bỏ qua nước tiểu. Dư thừa vitamin E gây độc hại đến toàn bộ cơ quan trong cơ thể. Hàm lượng cao vitamin E làm giảm khả năng đông máu và với phụ nữ, những ngày “đèn đỏ” sẽ kéo dài hơn chu kì bình thường, tăng nguy cơ thiếu hụt chất dinh dưỡng khác vì mất máu quá nhiều.
Vitamin E trong quá trình mang thai
Trong thời gian mang thai, cơ thể bạn đòi hỏi mức độ cao hơn vitamin E để gia tăng khối lượng máu. Tuy nhiên, dư thừa vitamin E trong thời kì mang thai có thể gây hại đến thai nhi, làm tăng nguy cơ của các khuyết tật tim bẩm sinh. Duy trì lượng vitamin E cân bằng rất quan trọng tới sức khỏe cũng như sự phát triển của trẻ nhỏ trong thời kì mang thai.
Trong thực phẩm, các nguồn chứa vitamin E có trong các loại dầu thực vật như cọ dầu, hướng dương, ngô, đậu tương, ô liu. Các loại hạt ngũ cốc, cá, bơ, lạc, và rau lá xanh, mầm lúa mì cũng cung cấp lượng vitamin E phong phú bạn có thể bổ sung trong thực đơn hàng ngày.

Vitamin E là một trong những chất nằm trong nhóm vitamin và cũng tuân theo chức năng của nhóm vitamin là tham gia vào các phản ứng của cơ thể với vai trò xúc tác, giúp cơ thể chuyển hóa (trong những trường hợp cụ thể, nếu thiếu có thể gây ra những bất thường cho cơ thể). Ví dụ phụ nữ khi mang thai những tháng đầu, nếu thiếu vitamin B9 (acid folic) có thể sẽ gây bất thường về ống thần kinh. Như vậy, tuy vitamin E không phải là một chất tham gia trực tiếp vào quá trình chuyển hóa của cơ thể nhưng lại có tính chất góp phần rất quan trọng trong quá trình này, giúp cho cơ thể khỏe mạnh, chống lại sự sản xuất dư thừa gốc tự do, chống lại quá trình chết tế bào, kìm hãm quá trình lão hóa, giúp da tóc mịn màng...., ngoài ra còn có nhiều tác dụng khác giúp nâng cao chất lượng sống của con người.
Có hai loại vitamin E: Loại có nguồn gốc thiên nhiên và loại tổng hợp.
- Vitamin E có nguồn gốc thiên nhiên: Ðược chiết xuất từ dầu thực vật như đậu tương, ngô, mầm lúa mạch, các loại hạt có dầu như hạt hướng dương. Vitamin E thiên nhiên là một đồng phân duy nhất của d-alpha tocopherol. Có 4 loại tocopherol là alpha, beta, gamma và delta, nhưng alpha là dạng chính (Cũng là vitamin E thiên nhiên) tồn tại trong cơ thể, có tác dụng cao nhất. Tuy nhiên các dạng khác như beta, gamma và delta dù hoạt tính thấp hơn loại alpha nhưng cũng có tác dụng hỗ trợ rất lớn cho sức khỏe con người.
- Mặc dù có tác dụng tốt nhất trong các loại tocopherol, nhưng do chiết xuất từ các thực phẩm thiên nhiên nên không kinh tế, vì vậy người ta đã sản xuất ra loại vitamin E tổng hợp. có công thức là dl - alpha tocopherol, gồm 8 đồng phân nhưng chỉ có 1 đồng phân giống vitamin E thiên nhiên là d - alpha tocopherol (chỉ chiếm 12,5%), vì vậy tác dụng của vitamin E tổng hợp thấp hơn so với loại có nguồn gốc thiên nhiên.
Vì loại d - alpha tocopherol có tác dụng chính, vì vậy Hội đồng nghiên cứu Quốc gia Mỹ đã lấy nó làm tiêu chuẩn và dùng đơn vị quốc tế IU để đánh giá hoạt tính của vitamin E trong các chế phẩm thương mại trên thị trường.
Về cơ chế hấp thu và sử dụng hai loại vitamin E thiên nhiên và tổng hợp trong cơ thể không có gì khác nhau, nhưng loại vitamin thiên nhiên được sử dụng nhiều hơn khoảng 50% so với loại tổng hợp. Vì vậy muốn đạt được hiệu quả mong muốn thì khi sử dụng vitamin E tổng hợp, phải uống tăng liều lên gấp 1,4 lần so với loại thiên nhiên. Lượng vitamin E dư thừa trong cơ thể do không được sử dụng sẽ nhanh chóng bị đào thải.
Các công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng vitamin E có tác dụng chống lại gốc tự do NO (Oxid Nitric) trong cơ thể (khi chất này dư thừa sẽ gây tác dụng xấu).
Khi phát hiện ra vitamin E và nhận thấy nó có tác dụng tốt đối với thai nghén, người ta đã đặt tên khoa học cho vitamin E là Tocopherol, theo tiếng Hy Lạp nghĩa là mang lại sự sinh sản. Trong những trường hợp thai nghén thường có nguy cơ cao như hội chứng rối loạn tăng huyết áp trong thai nghén (Trước đây gọi là nhiễm độc thai nghén), người ta đã cho thai phụ ở tình trạng tiền sản giật uống hàng ngày vitamin E phối hợp với vitamin C. Kết quả đã làm giảm nhẹ bệnh và 76% số bệnh nhân không còn tình trạng tiền sản giật. Người ta cũng nhận thấy nếu được uống bổ sung thường xuyên 400 đơn vị vitamin E và 1.000mg vitamin C hàng ngày vào 3 tháng giữa của thai kỳ, sẽ làm giảm tỷ lệ thai phụ bị tiền sản giật. Loại vitamin E có nguồn gốc thiên nhiên được hấp thu vào máu và truyền sang thai nhi nhiều hơn và hiệu quả hơn so với loại vitamin E tổng hợp. Sở dĩ vitamin E góp phần thuận lợi cho quá trình mang thai, sự phát triển của thai nhi và giảm được tỷ lệ sẩy thai hoặc sinh non là do đã trung hòa hoặc làm mất hiệu lực của gốc tự do trong cơ thể.
Vitamin E cũng làm giảm nhẹ các triệu chứng chuột rút, đau các bắp cơ hoặc đau bụng khi hành kinh ở các em gái tuổi vị thành niên. Các em gái nếu được dùng vitamin E ngay từ đầu của kỳ kinh sẽ giảm được 36% đau khi hành kinh.
- Qua nghiên cứu thực nghiệm, các nhà khoa học nhận thấy vitamin E có thể ức chế quá trình oxy hóa DNA nên đã ức chế hoạt động của chuỗi tế bào ung thư vú, làm giảm được 95% sự gia tăng tế bào ung thư vú ở người sử dụng alpha tocopherol, nghĩa là vitamin E có thể gây độc có tính chọn lọc đến các tế bào ung thư vú.
- Các nghiên cứu khác cho thấy những phụ nữ được bổ sung vitamin E thì tỷ lệ bị ung thư buồng trứng thấp hơn 67% so với nhóm không được sử dụng. Liều vitamin E bổ sung hàng ngày là 75mg, tương đương với 110 đơn vị vitamin E thiên nhiên. Người ta cũng khuyến cáo: Bổ sung vitamin E kèm với vitamin C hàng ngày có thể làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng.
- Ngoài ra vitamin E còn góp phần cải thiện tình dục, giúp noãn (trứng) và tinh trùng phát triển tốt hơn, nâng cao kết quả điều trị vô sinh.
Hàng ngày, da thường tiếp xúc với ánh nắng có nhiều tia cực tím nên dễ bị hủy hoại, mất tính chun giãn và sạm lại. Dùng kem bôi da có chứa vitamin E sẽ giúp giảm sự bốc hơi nước và giảm mức độ nhạy cảm đối với tia cực tím, chống được sạm da. Ðối với người bị viêm da dị ứng (làm rối loạn màu sắc của da và gây ngứa do da chứa nhiều IgE), vitamin E có tác dụng giảm nồng độ IgE, trả lại màu sắc bình thường và làm mất cảm giác ngứa.
Khi có tuổi, da mất tính chun giãn, đồng thời do tác dụng của lượng gốc tự do dư thừa sẽ làm da nhăn nheo, mất độ chun giãn, tóc xơ cứng, giòn, dễ gãy, vitamin E có thể giúp cải thiện tình trạng trên (làm da mềm mại, tóc mượt ít khô và gãy như trước) do đã làm giảm tiến trình lão hóa của da và tóc.
Nói chung việc sử dụng vitamin E khá an toàn. Lượng dư thừa, không được sử dụng sẽ nhanh chóng đào thải ra khỏi cơ thể. Liều cần thiết cho cơ thể sử dụng hàng ngày trung bình khoảng từ 100-400 đơn vị. Vitamin E hầu như không có tác dụng phụ khi sử dụng ở liều thông thường. Tuy nhiên khi lạm dụng vitamin E, dùng liều quá cao có thể gây buồn nôn, dạ dày bị kích thích hoặc tiêu chảy, chóng mặt, nứt lưỡi hoặc viêm thanh quản. Những triệu chứng này sẽ nhanh chóng mất đi sau khi ngừng thuốc.
Tuy nhiên vitamin E có thể làm tăng tác dụng của thuốc chống động gây chảy máu. Khi dùng chung với Aspirin vitamin E có thể cản trở sự ngưng kết tiểu cầu của Aspirin.
Vitamin E có rất nhiều trong các thực phẩm nguồn gốc thiên nhiên có nhiều chất béo như: đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, mầm lúa mạch, hạt hướng dương, dầu ô-liu. Vì vậy chỉ cần ăn nhiều dầu thực vật hoặc các thức ăn có nhiều vitamin E hàng ngày là đủ. Nếu thiếu, trong một số trường hợp cụ thể nên được các bác sĩ tư vấn về sự cần thiết có phải sử dụng vitamin E không? Nếu cần thì liều lượng thế nào và thời gian sử dụng bao lâu? Hiện nay các nhà thuốc có bán loại vitamin E nguồn gốc thiên nhiên, dạng viên nang, một vỉ 10 viên với tá dược là dầu đậu tương, hàm lượng thích hợp và dễ dùng.

Vitamin E có tác dụng hỗ trợ và làm mịn da cũng như điều trị sẹo sau mụn.

Vitamin E giúp bảo vệ mô khỏi quá trình oxy hóa, làm chậm quá trình lão hóa ở cơ thể. Đặc biệt, loại thần dược này còn giúp da không bị khô, duy trì sự tươi mới, giảm nếp nhăn nếu dùng đúng liều lượng.
Không chỉ dùng để uống, dịch trích ra từ viên nang vitamin E còn có tác dụng rất tốt trong cho việc làm đẹp da.
Một số công dụng của Vitamin E:
- Mặt nạ mờ sẹo
Trộn bột mì, bột nghệ, nước và một nửa viên nang vitamin E thành hỗn hợp đắp mặt trong vòng 15 phút rồi rửa lại với nước ấm. Mặt nạ có tác dụng làm sạch, cải thiện sắc tố da và làm mờ sẹo.
 - Nước hoa hồng
Trộn một nửa viên nang vitamin E với nước hoa hồng để thoa lên mặt sau khi rửa mặt sẽ có tác dụng giữ ẩm và giảm sẹo thâm.
-  Trị sẹo
Bôi trực tiếp vitamin E trên vết sẹo sẽ làm sáng vết sẹo một cách bất ngờ nếu mỗi ngày sử dụng 2 lần.
-  Điều trị da nhạy cảm
Với những Eva có làn da nhạy cảm, hãy bôi vitamin E lên toàn bộ khuôn mặt trước khi trang điểm sẽ giảm triệu trứng kích ứng da.
-  Điều trị vết bỏng
Thoa dầu vitamin E vào vết bỏng sẽ có tác dụng giảm bớt vết sẹo do bỏng sau này.
 - Chăm sóc móng
Trước khi đi ngủ, hãy thoa dầu vitamin E lên móng tay có tác dụng nuôi dưỡng móng chắc khỏe.
-  Trị quầng mắt
Thoa vitamin E lên vùng quầng mắt sẽ giúp giảm phần da sậm màu sau một thời gian sử dụng.
-  Trị nếp nhăn
Thoa dầu vitamin E lên mặt và để qua đêm có tác dụng giảm nếp nhăn, làm da căng mịn.
-  Trị cháy nắng
Khi làn da bị cháy nắng, bạn có thể thoa dầu vitamin E vào vùng da ửng đỏ để giảm bớt tình trạng phồng rát của da.
- Xóa vết rạn da
Với phụ nữ mang thai hoặc tăng cân quá nhanh có thể sử dụng vitamin E thoa vào vùng da rạn để chữa trị.
 
Hướng dẫn dùng vitamin E trị sẹo mụn:
Sử dụng vitamin E trong việc điều trị sẹo sau mụn là phương pháp được nhiều chị em tin dùng.
Những điều bạn cần:
- Dầu hoặc viên nang Vitamin E
- Dụng cụ vô trùng
- Gạc y tế
Hướng dẫn thực hiện:
Bước 1: Mua một vài vỉ viên nang vitamin E dang dầu hoặc dạng viên nang. Nếu bạn chọn dạng viên nang, bạn sẽ cần sử dụng một dụng cụ vô trùng sạch sẽ để nặn viên nang ra khỏi vỏ của chúng.
Bước 2: Làm sạch các vết sẹo hoặc vùng vết thương một cách  cẩn thận bởi chị em nên nhớ rằng vitamin E không phải là một loại thuốc giúp kháng khuẩn hay chống nấm.
Thực tế, nếu vùng da bị sẹo bị nấm hoặc bị vi khuẩn xâm nhập thì các vết sẹo hay vết thương phải được làm sạch đúng cách nếu không khi thoa dầu vitamin E vào có thể là mảnh đất màu mỡ cho các vi khuẩn hoành hành và gây nhiễm trùng.
Bước 3: Nặn một ít dầu bên trong viên nang Vitamin E lên đầu một tăm bông hoặc ép dầu vitamin E vào miếng gạc bông. Hãy cẩn thận để vitamin E không dây bẩn trực tiếp lên hai bàn tay hoặc dính dầu trên quần áo của bạn.
Bước 4: Thoa dầu vitamin E vào vết sẹo hoặc vết thương. Đừng chà dầu quá mạnh vào vết sẹo, chỉ cần bạn thoa chúng một cách cẩn thận và nhẹ nhàng.
Bước 5: Bạn có thể băng các khu vực sẹo vừa được thoa dầu vitamin E với mổ lớp gạc vải mỏng. Nhưng nhiều người không khuyến khích cách làm này vì nếu băng vùng da vừa thoa vitamin E kín có thể dẫn đến nhiễm khuẩn hay nấm da.
Bước 6: Để dầu vitamin E lưu lại trên các vết sẹo hoặc vết thương trong ít nhất 4-5 giờ trước khi lau rửa khu vực này.
Bước 7: Áp dụng thoa dầu vitamin E lên các vết sẹo hay vết thương ít nhất một lần một ngày trong một vài tuần, hoặc cho đến khi vết thương đã lành. Đối với các vết sẹo, tùy theo vết sẹo mới hay cũ, bạn có thể cần phải áp dụng thoa dầu vitamin E trong liên tục 1-2 tháng mới cho kết quả tốt nhất.
Đối với các vết sẹo, tùy theo vết sẹo mới hay cũ, bạn có thể cần phải áp dụng thoa dầu vitamin E trong liên tục 1-2 tháng mới cho kết quả tốt nhất.
Lưu ý:
- Dầu vitamin E có thể dính trên quần áo, do đó chị em nên cẩn thận khi áp dụng chăm sóc chúng cho làn da sẹo.
- Không nên sử dụng dầu vitamin E quá liều lượng khuyến cáo vì đây là một vitamin tan trong chất béo.

Nhiều người tưởng rằng do vitamin E là chất chống ôxy hóa có lợi cho tuổi trẻ và sắc đẹp nên cứ dùng càng nhiều càng tốt. Thực ra, chất này chỉ phát huy tác dụng ở liều nhỏ. Việc lạm dụng nó có thể gây nhiều phiền toái.
Khởi nguồn của hiện tượng "sùng bái" vitamin E có thể bắt đầu từ những đơn thuốc kê cho người bệnh có tuổi và người cần bổ sung chất này. Sau một thời gian dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ, người bệnh thấy cơ thể khỏe khoắn, nước da sáng hồng, bớt nhăn, tinh thần thoải mái. Các cụ đâm ra tín nhiệm vitamin E quá mức.
Với giới trẻ, thông tin về công dụng chống lão hóa, làm đẹp da của vitamin E xuất hiện ngày một nhiều trên các chương trình quảng cáo thực phẩm và mỹ phẩm. Dùng vitamin E đang là một trào lưu làm đẹp mới.
Theo các chuyên gia, người có tuổi dùng vitamin E đúng chỉ định sẽ có thể thấy ngay dụng của thuốc: làm da sáng hơn, có cảm giác khỏe khoắn hơn. Song với những người còn trẻ, sức khỏe bình thường, việc dùng nhiều chất này là không cần thiết. Có những phụ nữ mới 30-35 tuổi đã tiêm vitamin E thường xuyên, coi việc này cũng giống như sử dụng mỹ phẩm để phòng ngừa nhăn da và xuống sắc. Điều đó không những gây hao phí tiền của mà còn dễ dẫn đến tình trạng nhờn thuốc, đến khi cần tác động thực sự thì phải dùng tới liều cao. Bạn cũng đừng nghĩ rằng bôi vitamin E dạng tinh dầu trực tiếp lên vết thương sẽ khiến vết thương mau lành hơn.
Vitamin E tác động đến cơ thể như thế nào? 
Trong quá trình chuyển hóa, tiếp xúc với thuốc men, khói bụi, chất độc, tia tử ngoại..., cơ thể sản sinh ra các gốc tự do. Chúng tấn công các tế bào, phá hủy màng tế bào, làm hư hại bộ máy di truyền trong nhân. Gốc tự do xáo trộn chức năng sinh lý của các bộ phân, gây ra nhiều bệnh mãn tính như tim mạch, ung thư, thoái hóa thần kinh, alzheimer và khiến con người già đi rất nhanh, nhất là ở da.
Hệ thống bảo vệ cơ thể có khả năng chống lại hiện tượng trên nhờ sự ôxy hóa các gốc tự do; nhưng sự ôxy hóa ấy sẽ ngày càng yếu đi trong khi các phân tử gốc tự do ngày càng được sản sinh nhiều hơn theo tuổi tác. Vì vậy, cơ thể cần được tiếp thêm chất chống lại gốc tự do, đó là vitamin A, vitamin C, vitamin E và selen. Vitamin E giúp giảm nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành, giảm 77% nguy cơ mắc bệnh nhồi máu cơ tim cho những người có thân nhân từng mắc bệnh. Việc dùng vitamin E trước bữa ăn có nhiều mỡ sẽ làm giảm tác hại của mỡ đối với động mạch và ngăn ngừa được bệnh tim mạch. Loại vitamin này còn có khả năng làm tăng sức đề kháng, phòng bệnh đục thủy tinh thể và thoái hóa hoàng điểm ở người già, phòng ngừa được nhiều bệnh ung thư.
Ngoài việc ngăn chặn tác hại của gốc tự do, vitamin E còn được chỉ định trong điều trị sẩy thai liên tiếp, nhiễm độc thai nghén, một số rối loạn về kinh nguyệt hoặc sau khi cắt bỏ buồng trứng; nam giới ít tinh trùng, suy nhược tinh trùng, vô sinh... Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có bằng chứng cụ thể xác nhận lợi ích thực sự của vitamin E đối với những loại bệnh lý này .
Vitamin E không phải là thần dược mà chỉ có thể hạn chế những tác hại của tuổi tác lên sức khỏe con người. Nó chắc chắn sẽ không gây ra những biến chứng không mong muốn nếu dùng quá liều lượng cho phép.
Tuy vitamin E khá lành tính nhưng đã có trường hợp tử vong khi tiêm trực tiếp tocopherol - thành phần chất quan trọng nhất của vitamin E - vào tĩnh mạch. Có thể đó là do thuốc đã nhiễm tạp chất. Nhưng chắc chắn là việc dùng vitamin E liều quá cao một cách thường xuyên có thể dẫn đến tử vong sớm hơn.
Mỗi ngày, cơ thể chỉ cần trung bình 8-10 mg vitamin E. Tốt nhất nên hấp thụ nó qua đường ăn uống với các thực phẩm như dầu thực vật, dầu mầm lúa mì, dầu hướng dương, dầu ngũ cốc, trứng, gan... Ở liều cao (trên 400 IU/ngày), nó lại thúc đẩy các tổn hại do quá trình ôxy hóa gây ra và khống chế các tác nhân chống lão hóa khác. Biểu hiện dễ nhận thấy nhất khi dùng vitamin E quá liều là tiêu chảy, đau bụng, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi, suy nhược.
Ngoài ra, bạn cũng cần nhớ rằng vitamin E đối kháng với tác dụng vitamin K và sẽ làm tăng thời gian đông máu. Vì vậy, việc sử dụng vitamin E bổ sung cần theo sự chỉ định của bác sĩ. Và nói chung, đừng bao giờ lạm dụng thuốc, dù đó chỉ là thuốc bổ như vitamin E.

Vitamin E là thuật ngữ chỉ một số các hợp chất thiên nhiên và tổng hợp, có tác dụng ngăn cản ôxy hoá các thành phần thiết yếu trong tế bào, bảo vệ màng tế bào khỏi sự tấn công của các gốc tự do. Vitamin E được chỉ định điều trị các rối loạn bệnh lý về da, điều trị hỗ trợ chứng gan nhiễm mỡ, tăng cholesterol máu, hỗ trợ điều trị vô sinh, suy giảm sản xuất tinh trùng ở nam giới.



Vitamin E là một loại vitamin rất dễ hòa tan trong chất béo, tồn tại ở dạng dầu sánh màu vàng kim hoặc vàng nhạt. Có hai loại vitamin E có nguồn gốc thiên nhiên và tổng hợp. Vitamin E có nguồn gốc thiên nhiên được chiết xuất từ dầu thực vật như đậu tương, ngô, mầm lúa mạch, các loại hạt có dầu như hạt hướng dương... còn vitamin E tổng hợp được bào chế từ công nghệ hóa chất. Về cơ chế hấp thu và sử dụng hai loại vitamin E thiên nhiên và tổng hợp trong cơ thể không có gì khác nhau, nhưng loại vitamin thiên nhiên được sử dụng nhiều hơn khoảng 50% so với loại tổng hợp. Tác dụng của vitamin E tổng hợp thấp hơn so với loại có nguồn gốc thiên nhiên.
Khi cơ thể bị thiếu vitamin E có thể gặp các triệu chứng như: Rối loạn thần kinh, yếu cơ, rung giật nhãn cầu, giảm nhạy cảm về xúc giác, dễ tổn thương ở da, dễ vỡ hồng cầu, dễ gây tổn thương cơ quan sinh dục, có thể gây vô sinh...
Tác dụng của vitamin E
Đối với phụ nữ mang thai, vitamin E góp phần thuận lợi cho quá trình mang thai, sự phát triển của thai nhi và giảm được tỷ lệ sẩy thai hoặc sinh non do đã trung hòa hoặc làm mất hiệu lực của gốc tự do trong cơ thể.
Vitamin E cũng làm giảm nhẹ các triệu chứng chuột rút, đau các bắp cơ hoặc đau bụng khi hành kinh ở các em gái tuổi vị thành niên. Các em gái nếu được dùng vitamin E ngay từ đầu của kỳ kinh sẽ giảm được 36% đau khi hành kinh. Ngoài ra vitamin E còn góp phần cải thiện tình dục, giúp noãn (trứng) và tinh trùng phát triển tốt hơn, nâng cao kết quả điều trị vô sinh. Vitamin E có thể giúp làm giảm tiến trình lão hóa của da và tóc cải thiện tình trạng da khô sạm, tóc gãy rụng...
Nói chung việc sử dụng vitamin E khá an toàn. Lượng dư thừa không được sử dụng sẽ nhanh chóng đào thải ra khỏi cơ thể. Liều cần thiết cho cơ thể sử dụng hàng ngày trung bình khoảng từ 100 - 400 đơn vị. Vitamin E hầu như không có tác dụng phụ khi sử dụng ở liều thông thường. Tuy nhiên khi lạm dụng vitamin E, dùng liều quá cao có thể gây buồn nôn, dạ dày bị kích thích hoặc tiêu chảy, chóng mặt, nứt lưỡi hoặc viêm thanh quản. Những triệu chứng này sẽ nhanh chóng mất đi sau khi ngừng thuốc.
Cách tốt nhất để bổ sung vitamin E là sử dụng các thực phẩm chứa vitamin E có nguồn gốc thiên nhiên có nhiều chất béo như: đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, mầm lúa mạch, hạt hướng dương, dầu ô-liu... Trong trường hợp nếu thiếu vitamin E hoặc phụ nữ mang thai, điều trị hỗ trợ các bệnh khác nên được các bác sĩ tư vấn và hướng dẫn sử dụng vitamin E.